Lịch sử phát triển môn nhảy cao

20:53:36 ngày 01/08/2014

Nhảy cao là một trong những môn điền kinh có lịch sử lâu đời và được phát triển rất rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nhảy cao là môn thể thao sử dụng chủ yếu năng lực của bản thân thông qua một số hình thức vận động phù hợp với luật quy định trong thi đấu nhằm vượt qua mức xà ở các độ cao khác nhau
 
Lịch sử phát triển môn nhảy cao

Lịch sử phát triển môn nhảy cao

Ngày nay nhảy cao không chỉ là một môn thi đấu chủ yếu trong các cuộc thi điền kinh thế giới, mà còn là một nội dung giảng dạy chính của các trường Đại học Thể dục thể thao, các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, các trường phổ thông…

Thành tích nhảy cao được tính bằng mét và cm (mét và xăng ty mét).Có năm kiẻu kỷ thuật nhảy cao

Nhảy cao kiểu Bước qua

Nhảy cao kiểu Cắt kéo 

Nhảy cao kiểu Nằm nghiêng 

Nhảy cao kiểu Úp bụng 

Nhảy cao kiểu Lưng qua xà 

Trong đó kiểu nhảy lưng qua xà là tiên tiến nhất. Các vận động viên tầm cỡ quốc gia và thế giới th ường sử dụng kiểu nhảy này. Tuy nhiên kiểu nhảy lưng qua xà yêu cầu phải có đệm tốt. Nếu trường hợp không có đệm thì kiểu nhảy úp bụng qua xà vẫn là tối ưu nhất.

1.  Ý nghĩa tác dụng của môn nhảy cao

Ngày nay nhảy cao không chỉ là một môn thi đấu chủ yếu trong các cuộc thi đấu thế giới mà còn là một trong những nội dung giảng dạy chính khóa trong các Trường Đại học Thể dục Thể thao, các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, các trường ở phổ thông.

Bởi vì: Tập luyện nhảy cao cũng như các môn điền kinh khác có tác dụng tốt trong việc tăng cường và cũng cố sức khỏe cho con người. Tập luyện nhảy cao nhằm phát triển tốt các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, tốc độ, tăng cường sức bền và độ khéo léo.

Tập luyện nhảy cao rèn luyện tinh thần dũng cảm, đức tính kiên trì nhẫn nại, vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ học tập cũng như để chinh phục độ cao ly tưởng 

2. Lịch sử phát triển môn nhảy cao

Sơ luợc lịch sử phát triển của môn nhảy cao trên thế giới.

Nhảy cao được nhắc tới từ thời Trung cổ Đầu năm 1800 ở Anh phổ biến trò chơi với một sợi giây được căng trên hai cây gậy cắm trên mặt đất, người thi sẻ nhảy qua dây xuống mặt cỏ bằng cả hai chân một lúc.

Năm 1851 môn nhảy cao được đưa vào Đại hội Thể  dục Thể thao sinh viên Đại học Oxford. Chính thức xuất hiện phương pháp nhảy một chân. Kể từ đây nhảy cao được đưa vào  trường học và coi đó như một phương tiện rèn luyện thể lực và được coi là một môn thể thao dành riêng cho nam giới. 

Năm 1870, Aciman (Thụy Điển ) nhảy qua được độ cao 1,83 m gây chấn động một thời. 

Năm 1896, tại Đại hội Olympic lần thứ nhất tổ chức ớ Athen (Hy Lạp),nhảy cao là một trong số 12 môn điền kinh được tổ chức thi đấu đầu tiên.Tại Đại hội chỉ có 5 vận động viên của 3 nước ,Mỹ - Đức - Thụy điển tham gia và E. Clac, bằng lối nhảy thu chân tự nhiên tương tự như kiểu “bước qua” đã vượt mức xà 1,81 m, lập kỷ lục Olympic đầu tiên cho môn nhảy cao

Từ Đại hội Olympic lần thư 2 đến lần thứ 5, trong chương trình điềh kinh,người ta đã tổ chức thi đồng thời cả nhảy cao không đà lẫn nhảy cao có đà (kỷ lục nhảy cao không đà của R. Iuri khi đó là 1,655 m), song vì nhẩy cao không đà ít được phổ biến và rất đơn điệu Điều đáng nên từ những đại hội tiếp theo nó bị loại bỏ khỏi chương trình thi đấu.

Kỷ lục thế giới chính thức đầu tiên được công nhận về nhảy cao nam là của D. Orin (Mỹ), lập ngày 18 tháng  5 năm 1912 trong cuộc thi ở Palo Anto với thành tích 2, 00m bằng phương pháp “nằm nghiêng” khi qua xà nên người ta quen gọi phương pháp này là phương pháp “Orin”. Từ năm 1912 đến giữa năm1957 là giai đoạn hoàng kim của các vận động viên nhảy cao Mỹ suốt gần 45 năm liên tục, các vận động viên ở phía Tây bán cầu này kế tiếp nhau 9 lần đưa tầm cao kỷ lục từ 2,00m lên 2,15m và U. Macti là người liên tiếp lập hai kỷ lục thế giới trong 2 năm 1933 - 1934 với thành tích 2.04 m và 2.06 m.

Tại 9 Đại hội Olympic ở giai đoạn này, các vận động viên nhảy cao Mỹ cũng chiếm hầu hết những vị trí nhất, nhì, trừ năm 1932, tại Đại hội Olympic lần thứ 10 ở Los Angeles và năm 1948 tại Đại hội Olympic lần thứ 14 ở London mới chịu nhường 2 huy chương vàng cho các vận động viên Canada và Australia.

Người đầu tiên không phải là vận động viên Mỹ có tên trong danh sách lập kỷ lục thế giới về nhảy cao là Iu. Stepanov (Liên Xô cũ). Ngày 13 tháng 7 năm 1957 tại cuộc thi ở Leningrad,  Iu. Stepanop đã vượt qua mức xà 2,16m và lập kỷ lục thế giới mới vì Stepanov dùng phương pháp “úp bụng” qua xà nên thời đó luôn là “kiểu Stepanov” dẫu rằng kỹ thuật này đã được Vdorov thực hiện từ trước vào năm 1924. Sau Stepanov, Degion Thomas (Mỹ) là một vận động viên khá nổi tiếng. riêng năm 1960, trong bốn tháng liền anh lập 3 kỷ lục thế giới và nâng thành tích nhay cao lên 2,22 m.

Vận động viên nhảy cao tiêu biểu nhất trong giai đoạn từ 1960 - 1963 là V. Brumen. Năm 1960, lần đầu tiên giới thể thao biết đến tên anh tại Đại hội Olympic lần thứ 17 ở Roma (Italia) sau khi anh giành được huy chương Bạc với thành tích 2,16m (bằng thành tích người dẫn đầu cuộc thi). T ừ 1961 - 1963, V. Brumen  lần lượt lại liên tiếp lập 6 kỷ lục thế giới, đưa thành tích nhảy cao của con người lên 2.28m – tức là vượt độ cao trên đầu của chính mình 43cm.

Đặc điểm kỹ thuật của V. Brumen là anh chạy đà với tốc độ rất cao. Thời đó, người ta  quan niệm chạy đà nhanh sẽ ảnh hưởng đến kỹ thuật giậm nhảy và thành tích nhảy sẽ không đạt hiệu quả. Song V. Brumen là người đầu tiên bác bỏ quan niệm này và thực hiện giậm nhảy khi tốc độ vào đà lớn. Ở những lần nhảy từ 2,20m trở lên, tốc độ đà trước khi giậm nhảy của anh  lên gần tới 8 m/giây trong khi những đồng nghiệp chậm hơn nhiều. Bước cải tiến kỹ

thuật táo bạo này đã góp phần không nhỏ giúp V. Brumen ghi tên mình trên 6 nấc thang kỷ lục. Năm 1968, tại Đại hội Olympic lần thứ 19 tại Mexico, tuy kỷ lục nhảy cao không bị phá,  song điều mọi người ngạc nhiên quan tâm là một kỹ thuật nhảy cao mới ra đời – kiểu “lưng qua xà”, hay như người ta thường gọi là “phloph” và D. Fosberi ( Mỹ) là tác giả với thành tích  2.24 m giành huy chương vàng, khi kiểu nhảy không “tự nhiên” và “kỳ quặc” này làn đầu tiên  xuất hiện, nhiều người còn bán tín bán nghi, song điều đáng ngạc nhiên là kiểu nhảy “lưng qua xà” tưởng như khó khăn phức tạp kia sau đó lại được vận động viên tiếp thu rất nhanh và dễ dàng. Rồi tiếp đó việc các kỷ lục liên tiếp bị phá 2.29 m; 2.30 m; 2.32 m rồi 2.35 m bằng kiểu nhảy mới đã đưa “lưng qua xà” lên địa vị “kỹ thuật nhảy của các nhà vô địch”.

Tại Đại hội Olympic Mascow ngày 1 tháng 8 năm 1980, kỷ lục thế giới về nhảy cao của nam được G. Vershich – vận động viên Đức nâng lên 2,36m và từ đấy một giai đoạn mới – giai đoạn vươn lên chiếm lĩnh tầm cao của hàng loạt vận động viên bắt đầu. Nếu như  năm 1973 chỉ có D. Stoaull vượt qua độ cao 2,30 m thì ngày nay có tới hơn 30 danh thủ trên thế giới vượt qua gần 50 lần thành tích ở độ cao từ 2,30 m đến 2,39 m. Riêng năm 1983 đă có 28

lần thành tích từ 2,30 m trở lên. Ở giai đoạn này người Mỹ mất hẳn độc quyền và ưu thế trong nhảy cao nam, và như vậy kỷ lục nhảy cao đã chuyển từ phía Tây sang phía Đông bán cầu. Các vận động viên châu Âu, đặc biệt là các vận động viên Liên xô (cũ), Ba lan, Đức đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các vũ đài quốc tế.

Ngày 21 tháng 9 năm 1983, kỷ lục thế giới chuyển sang châu Á sau lần nhảy thành công ở độ cao 2,38 m của Chu Kiến Hoa (Trung Quốc). Một năm sau, năm 1984, anh lại tự phá kỷ lục của mình với thành tích 2,39 m. Điều đáng lưu   là Chu Kiến Hoa, người giữ kỷ lục thế giới lúc đó, lại chưa bao giờ giành được huy chương vàng về nhảy cao. Tại cuộc thi quốc tế lớn ở Helsinki (Phần Lan), Rome (Italia), Tokyo (Nhật Bản), London (Anh), Los Angeles (Mỹ) và cả các cuộc thi trong nhà có mái che tại Pari (Pháp), Chu Kién Hoa chí may mắn giành được  một lần huy chương bạc, còn thì chỉ tới huy chương đồng mà thôi. Có thể nói hai mùa điền kinh 1983 và 1984 là cuộc tổng tiến công vào các đỉnh cao thành tích .Bên cạnh Chu vượt 2,39 m, có ba thành tích vượt 2,37 m. Ngoài ra có một loạt vận động viên trẻ vượt 2,33, 2,34 và 2,36 m như Sotomayo (Cuba), Matay (Roumanie), Murgenbourg (Đức), Sotsimovich, Cotovich, Demianiuc và Granencov (đều của Liên xô cũ), Sioborg (Thụy điển) và cả Holvash (Mỹ)…Tất cả đều là niềm hy vọng  chiếm lĩnh đỉnh cao kỷ lục 2,40m trong một thời gian không xa. Và quả đúng như dự đoán, ngày 11.8.1985 tại Donhesk, vận động viên R. Povanitsin (Liên xô cũ) đã nâng kỷ lục thế giứoi lên 2,40 m rồi I. Paklin vượt qua 2,41m, P. Sioborg (Thụy điển) vượt qua 2,42 m và cuối cùng, vận động viên J. Sotomayor (Cuba) trong các năm 1988, 1989, 1993 đã 3 lần liên tiếp phá kỷ lục thế giới, đưa thành tích nhảy cao lên 2,45 m.

Vận độnh viên Javier Sotomayor 

Mãi đến Đại hội Olympic lần thứ 10 năm 1932 tại Los Angeles, môn nhảy cao mới có  nữ vận động viên tham gia và D. Silli (Mỹ) là vận động viên nhảy cao nữ lập kỷ lục thế giới đầu tiên khi vượt qua mức xà 1,65 m. Ngày nay kỷ  lục nhảy cao của nữ là 2,09 m do S.Kostadinova (Bulgarie) lập tại Rome ngày 30.8.1987.

Sơ luợc lịch sử phát triển của môn nhảy cao ở Việt nam.

Năm 1976, VĐV Hoàng Vĩnh Giang đã lập kỷ lục nhảy cao VN với thành tích 1,96m. Từ đó cho đến 1999, lần lượt qua hai thế hệ vận động viên là Trần Quang Vinh, rồi Hồ Sỹ Ngọc Long và Nguyễn Nam Nhân, thành tích được nâng lên được 4cm. Nhưng từ Hội khỏe Phù Đổng 2000 đến nay, chỉ trong vòng năm năm Nguyễn Duy Bằng đã nâng kỷ lục nhảy cao Việt nam lên đến 2,25m. Phía nhảy cao nữ cũng thế, đầu thập niên 1990 việc Vũ Mỹ Hạnh đạt 1,82m đã được xem là một kỳ tích, thì nay Bùi Thị Nhung đã bay qua 1,94m.

VĐV Nguyễn Duy Bằng

Vận động viên Nguyễn Duy Bằng

Vận động viên nhảy cao nhất Việt Nam hiện nay là vận động viên Nguyễn Duy Bằng, sinh năm 1982, ở xã Phước Thạnh, Châu Thành, Bến Tre. Ngay từ khi còn học phổ thông, Bằng đã có ngoại hình khác thường: mới học lớp 10 đã cao 1,79m. Với tố chất như vậy nên năm 1997, Bằng được chọn vào lớp năng khiếu thể thao của tỉnh Bến Tre, năm 1999, Bằng tham dự giải thanh thiếu niên toàn quốc tại Khánh Hòa và đạt Huy chương đồng nhảy cao với mức xà 1,8m. Sau một năm, tháng 7 năm 2000, tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ V diễn ra tại Đồng Tháp, Duy Bằng đã xuất sắc phá kỷ  lục quốc gia môn nhảy cao nam với thành tích 2,02m. Với thành tích này, từ tháng 11- 2000, Bằng được vào đội dự tuyển trẻ, rồi dự tuyển quốc gia. Qua quá trình tập luyện và tham gia thi đấu tại các giải quốc gia và quốc tế từ năm 2001-2004, Bằng đã liên tiếp nhiều lần phá kỷ lục quốc gia do chính anh lập ở các mức kỷ lục mới: 2,05m; 2,06m; 2,11m; 2,13m; 2,16m, 2,20m và 2,21m, trở thành một trong những vận động viên nhảy cao hàng đầu của Đông Nam Á. 

Bùi Thị Nhung

Vận động viên Bùi Thị Nhung

Đặc biệt, tháng 9/2004 trong lần tham dự “ Giải Điền kinh các ngôi sao Châu Á” tại Singapore - giải giành cho các vận động viên mạnh nhất của châu lục hiện tại - Nguyễn Duy Bằng đã lập được thành tích xuất sắc khi vượt qua mức xà 2,25m, phá kỷ lục Đông Nam Á (kỷ lục cũ là 2,24m do vận động viên Kim Zee Loo - Malaysia lập năm 1995) và giành Huy chương đồng.

Với thành tích mới này, Nguyễn Duy Bằng đã tiếp cận và mở ra khả năng tranh chấp ở đỉnh cao châu lục trong môn nhảy cao nam của điền kinh Việt Nam. Một trong những điều quan trọng nữa là anh đã vượt qua chiều cao của chính mình đến 41cm, hiện chiều cao của Bằng là 1,84m.

Theo Blacktigerclub

Hãy chia sẻ bài viết này với bạn bè của bạn    

Bình luận bằng tài khoản

  • FACEBOOK
Xem nhiều nhất